CÁC TRƯỜNG HỢP NÀO KHÔNG PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA TỪ NGÀY 01/01/2026?
1.Các trường hợp nào không phải bồi thường thiệt hại về chất lượng sản phẩm, hàng hóa từ ngày 01/01/2026?
Các trường hợp không phải bồi thường thiệt hại về chất lượng sản phẩm, hàng hóa từ ngày 01/01/2026 được quy định tại Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025, cụ thể như sau:
(1) Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(i) Thiệt hại xảy ra do người tiêu dùng cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa đã hết hạn sử dụng hoặc đã được cảnh báo rõ về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa;
(ii) Đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật;
(iii) Khi chứng minh được khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại và trong trường hợp người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin về sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại nhưng vẫn cố ý sử dụng;
(iv) Thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của tổ chức, cá nhân bán hàng hoặc của người tiêu dùng.
(2) Tổ chức, cá nhân bán hàng không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
(i) Thiệt hại xảy ra do người tiêu dùng cố ý sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng hoặc biết rõ hàng hóa có khuyết tật mà vẫn sử dụng;
(ii) Đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật;
(iii) Hàng hóa có khuyết tật phát sinh do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm sản xuất, nhập khẩu;
(iv) Thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của người tiêu dùng.
(3) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy định khác của luật có liên quan.
2.Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là gì?
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định tại Điều 59 Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007, cụ thể:
(1) Thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
(2) Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại được quy định tại Điều 60 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, trừ trường hợp các bên tranh chấp có thỏa thuận khác.
Cụ thể, các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng theo Điều 60 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 như sau:
– Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại.
– Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người.
– Thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản.
– Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
3.Những hành vi nào bị nghiêm cấm về chất lượng sản phẩm hàng hóa?
Căn cứ theo Điều 8 Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007 được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a, b khoản 2 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025 quy định những hững hành vi bị nghiêm cấm về chất lượng sản phẩm hàng hóa bao gồm:
– Sản xuất sản phẩm, nhập khẩu, mua bán hàng hóa đã bị Nhà nước cấm lưu thông.
– Sản xuất sản phẩm, xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán hàng hóa, trao đổi, tiếp thị sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
– Xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán hàng hóa không có nguồn gốc rõ ràng.
– Xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán hàng hóa, trao đổi, tiếp thị sản phẩm, hàng hóa đã hết hạn sử dụng.
– Dùng thực phẩm, dược phẩm không bảo đảm chất lượng hoặc đã hết hạn sử dụng làm từ thiện hoặc cho, tặng để sử dụng cho người.
– Cố tình cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm, kiểm tra, giám định, kiểm định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
– Giả mạo hoặc sử dụng trái phép dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy, các dấu hiệu khác về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
– Thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
– Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng, nguồn gốc và xuất xứ sản phẩm, hàng hóa; kinh doanh sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, đặc biệt trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử, gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng.
– Che giấu thông tin về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn của động vật, thực vật, tài sản hoặc môi trường.
– Sản xuất, chế biến sản phẩm, hàng hóa bằng nguyên liệu, vật liệu cấm sử dụng để sản xuất, chế biến sản phẩm, hàng hóa đó.
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa để cản trở bất hợp pháp, gây phiền hà, sách nhiễu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân hoặc bao che hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
– Lợi dụng hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa để gây phương hại cho lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
– Thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa gây nhầm lẫn, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác.
Nguồn: TVPL
Thực hiện: Luật sư Minh Huyền
